Chung Quân

Nguyễn Đức Tiến

                                                                                     

                   

                                                                                                                                                            Nguyên Giao

 

 

 

 

Vào những năm 1960 – 1962 tại trường trung học Chu Văn An (có biệt danh Chuồng Ngựa do trường Pétrus-Kư cho mượn, gần công trường Cộng Ḥa) ở Sài G̣n, tôi đă có may mắn được học nhạc với giáo sư Nguyễn Đức Tiến, tức nhạc sĩ Chung Quân.

 

Nhạc sĩ Chung Quân nổi tiếng v́ là tác giả bản nhạc ‘Làng Tôi’ đă trúng giải của công ty điện ảnh kiêm tuồng cải lương Kim Chung ở Hà Nội năm 1952, để làm bản nhạc nền cho cuốn phim có tiếng nói đầu tiên được thực hiện ở Việt Nam. Phim mang te^n ‘Kiếp Hoa’.

 

Khi thông báo tuyển nhạc được quảng bá, các nhạc sĩ ‘bậc thầy’ nổi tiếng thời đó đua nhau gửi những ‘đứa con tinh thần’ về công ty điện ảnh mong được trúng giải. Nguyễn Đức Tiến – lúc đó 25 tuổi - cũng dự thi với bản Làng Tôi.

 

Không ai có thể nghĩ rằng Chung Quân có thể đánh bại các bậc đàn anh - lúc đó xuất sắc với nhiều sáng tác cho tân nhạc, và không phải là ít - với chỉ một bản nhạc có lẽ là đầu tay! Bản nhạc được chấm nhất v́ có tiết điệu êm đềm, b́nh dị, đặc biệt là rất dễ hát, dễ thuộc, và khi hát lên là người nghe cảm thấy có một cái ǵ đó thiết tha, tŕu mến (Tương tự như bản ‘Ḷng Mẹ’ của cố nhạc sĩ Y Vân). Làng Tôi lập tức được công bố, xuất bản, thu thanh và xướng lên làm nhạc nền cho phim Kiếp Hoa.

 

V́ là phim có tiếng nói đầu tiên kể từ khi ngành phim ảnh Việt Nam được khai sinh năm 1937, Kiếp Hoa nổi tiếng khiến bản nhạc Làng Tôi và tác giả của nó cũng nổi tiếng theo, hầu như cả nước đều biết. 

 

Hai năm sau, 1954, Nguyễn Đức Tiến di cư vào Nam, gia đ́nh định cư ở vùng Khánh Hội. Các trường Chu Văn An, Nguyễn Trăi cũng lục tục được di chuyển vào Nam.

 

 

 

 

 

 

Do danh tiếng của ḿnh từ khi đoạt giải ở Hà Nội, cộng thêm các giấy tờ đă học sư phạm chuyên ngành về Nhạc, nhạc sĩ Chung Quân được Bộ Quốc Gia Giáo Dục của Đệ Nhất Cộng Ḥa ưu đăi, cho dạy môn nhạc tại hai trường trung học Chu Văn An, và Nguyễn Trăi, ăn lương theo ngạch giáo sư trung học đệ nhất cấp, tương đối là cao.

 

Tôi c̣n nhớ khoảng năm 1955-56, vào một hôm trời mưa như trút nước, tôi được một người bạn học trường trung học Nguyễn Trăi, có vé mời, rủ đi xem một đại nhạc hội của các học sinh trường này tổ chức tại rạp Thanh B́nh. Tiết mục đáng nhớ nhất là hợp xướng ‘Sông Bến Hải’ do nhạc sĩ Chung Quân, đồng thời là giáo sư âm nhạc, sáng tác và tập cho các học sinh của trường. Đây là một trường ca có giá trị nghệ thuật cao, nói về một ḍng sông chia đôi đất nước, và tâm trạng phải bỏ ‘quê cha, đất tổ’ của người di cư năm 1954. Hợp xướng này nghe thật hay, và chắc chắn không dễ tập, nhất là với mấy cậu học tṛ có kiến thức âm nhạc rất ‘căn bản’! Măi đến sau này, khi được học nhạc với thầy Nguyễn Đức Tiến ở Chu Văn An, tôi mới được biết một, hai ‘bí quyết’ đọc nhạc do thầy dậy cho các học tṛ.

 

Thật là điều đáng tiếc khi không hiểu v́ sao, trường ca Sông Bến Hải sau này không thấy được phổ biến, và giới yêu nhạc chỉ biết nhạc sĩ Chung Quân qua bản Làng Tôi!

 

Thầy Tiến dáng dong dỏng cao, hay đeo kính mát gọng vàng, và có thể nói là đẹp trai. Các giáo sư thời ấy đi dạy ăn mặc rất sang trọng. Trời nắng chang chang, đổ mồ hôi, mà cụ hiệu trưởng Trần Văn Việt  vẫn luôn luôn mặc com-lê trắng, đeo cravát. Các giáo sư và các vị giám thị - tuy không bằng cụ hiệu trưởng - cũng đeo cravát, mặc áo sơ mi dài tay cài nút măng-sét. Trông các thầy thật ‘oai’! Trong các giáo-sư, người ăn mặc đẹp nhất, sang nhất, và đúng mốt nhất vẫn là thầy Tiến. Đặc biệt, khi đi dạy ở Chu Văn An, người ta đă thấy thầy lượn xe Vespa rất sớm so với các giáo sư khác.

 

V́ là giáo sư âm nhạc, thầy Tiến đă phải ‘biểu diễn dẫn giải’ (demo) bằng ca hát cho đám học tṛ non dại chúng tôi, nên nhờ vậy, chúng tôi đă nhiều lần được nghe thầy hát ‘nhạc sống’ thật … sống động! Mỗi khi thầy cất tiếng hát – chắc chắn to hơn khi thầy nói! - cả lớp chúng tôi đều lắng tai nghe và mong thầy hát thật lâu để chúng tôi được thưởng thức. Tôi c̣n nhớ rơ những lúc thầy trịnh trọng gơ thanh nĩa chuẩn âm (gọi là ‘âm thoa’) bằng kim loại trắng, trước khi say sưa đơn ca bài Ḥn Vọng Phu:

 

‘Nơi phía nam giữa núi mờ

Ai bế con măi đứng chờ

Như nước non xưa đến giờ

Đường chiều mịt mù,

Cát bay tỏa bước ngựa phi đường trường

Nếp tàn y hùng cường

Vẫn c̣n bay trong gió

Bóng chàng xa, sắp dần qua’

(Lê Thương)

 

trước mặt đám học tṛ ngẩn người, yên lặng lắng nghe - không phải một, mà nguyên cả ba - bài hát đầy những h́nh ảnh lịch sử này. Không có nhạc đệm mà qua tiếng thầy hát, tôi có thể như h́nh dung ra các h́nh ảnh ngựa phi, qua sông vượt núi, và tiếng đao khiên loảng xoảng nơi chiến trường …

 

Cho đến giờ này tôi vẫn c̣n có thể lẩm bẩm được những nốt nhạc của bài dân ca phổ thông của Ư Đại Lợi, có tựa là Santa Lucia, cũng do thầy Chung Quân dạy:

 

‘Ṣn ṣn, đố đố si si

Phà phà, lá lá son son

Ḿ lá son son, phà phà

Pha mi rề lá son’

 

Mê nghe, và hát tân nhạc, nhưng tôi rất dốt, và lười về nhạc lư. Nếu không nhờ thầy Tiến chỉ dậy, không biết bao giờ tôi mới biết được sự khác nhau, cũng như cách đánh nhịp 2/4 (“Một xuống, một lên!”), ¾ (“Một, hai, ba!” theo ba cạnh của tam giác có một góc vuông), và 4/4 (tức C: “Một, hai, ba, bốn!” theo h́nh số 8 có 4 góc nhọn).

 

V́ nhạc lư là môn học khô khan, nhất là phần nhớ các bộ khóa đầu bản nhạc, và làm sao t́m ra giai âm chính của bản nhạc đó, thầy Tiến đă sáng chế ra một bài lục bát thật độc đáo và hữu dụng, vừa đủ và cho đúng 7 nốt nhạc. Đó là:

 

‘Nhất Ṣn, Nhị Rế, Tam La,

Tứ Mi, Ngũ Sí, Lục Pha, Thất Đồ!’

 

Có nghĩa là nếu thấy ở đầu bản nhạc có một dấu thăng, th́ bài ấy có âm giai Sol là chính; Nếu có hai dấu thăng th́ là âm giai Rê, v.v. Học tṛ của thầy hơn người một phần là nhờ những ‘bí quyết’ này.

 

Chung Quân Nguyễn Đức Tiến có lối tập hợp xướng rất công phu, một phần có lẽ v́ thầy ngày trước có học nhạc ở Chủng viện nên đă được huấn luyện chuyên nghiệp về ḥa âm, và hợp xướng. Tôi nhớ trong năm học Đệ Ngũ, chúng tôi được thầy tập cho hợp xướng bài ‘Hè Về’ của nhạc sĩ Hùng Lân để tŕnh diễn trong buổi văn nghệ cuối niên học. Thầy tuyển được đâu 40 học sinh có giọng tốt từ trầm đến bổng để hát 4 bè. Thầy cũng t́m được ba giáo sư có giọng, hay giỏi đàn nhạc trong trường, để mỗi thầy làm trưởng một bè.

 

Bốn nhóm bè, lúc tập th́ tập riêng, chỉ hát phần bè của ḿnh mà không biết ba nhóm kia hát ǵ. Sau khi cả bốn nhóm đă nhuần nhuyễn, ‘O^ng bầu/Dda.o die^~n’ Chung Quân cho ráp lại bốn nhóm hát cùng một chỗ, và chung một lúc: Tất cả 40 học sinh trong đoàn hợp ca không thể nào nghĩ rằng tiếng hát bè ‘thỉnh-thoảng-xen-vào’ của ḿnh lại có thể vừa hay, vừa ‘quan trọng’ được góp tiếng vào một ban hợp xướng bốn bè, nghe có vẻ nghệ thuật không khác ǵ các ban hợp xướng chuyên nghiệp của Sài G̣n Hoa Lệ.

 

Có mấy ai đi học miễn phí mà lại may mắn được đi nghe và được dạy các kỹ thuật của âm nhạc thuộc loại thính pḥng, có tiêu chuẩn quốc tế như tụi tôi?

 

Thầy Tiến viết chữ trên bảng rất đẹp. Nhiều khi hết giờ của thầy, học tṛ chúng tôi không nỡ xóa đi lời các bản nhạc thầy đă viết trên bảng. Chưa kể thầy c̣n có tài ‘vung’ phấn trên bảng đen, chỉ với một nét, thầy đă tạo được cả năm ḍng kẻ nhạc, và khóa Son cùng một lúc từ đầu bên kia bảng, sang bên này bảng, thẳng tắp, và đều đặn tưởng như có dùng thước hay máy vẽ! Có lần chúng tôi hỏi, thầy trả lời nho nhỏ như không có ǵ đáng để ư, “Làm nhiều th́ quen tay; Vậy thôi!”

 

Tính thầy ḥa nhă nhưng rất nghiêm. Chỉ nói nhỏ nhẹ khi thật cần thiết, mực thước và  nghiêm. Học với thầy hai, ba năm mà chưa bao giờ tôi thấy thầy la mắng một đứa học tṛ nào, và ít khi thấy thầy cười thành tiếng. Tuy say sưa dạy nhạc nhưng h́nh như thầy không biết tên chúng tôi: Tôi chưa bao giờ thấy thầy có nhớ, và gọi tên bất cứ một học sinh nào - trừ khi có sổ điểm trước mặt! Có thể v́ thày dạy quá nhiều lớp, hay trí nhớ của thầy đă đầy những dữ kiện khác cần, và đáng nhớ hơn. Giữa thầy và tṛ, chúng tôi vẫn cảm thấy có một bức tường ngăn cách nào đó!

 

Ngược lại, nhiều học tṛ của thầy cũng chẳng biết ǵ nhiều về thầy. Có thân hữu trong lớp tôi hồi đó, giờ này - tức sau hơn 40 năm rồi - c̣n nói, "Tớ đâu có biết tên thật của ông ấy là Nguyễn Đức Tiến, v́ ai cũng gọi ông ấy là 'Thầy Chung Quân'!"

 

Thế mà chúng tôi vẫn mến phục thầy dù rằng ở ban B (tức là Ban Toán), nhạc chỉ là môn học phụ, có hệ số điểm thấp nhất là 1, mỗi tuần chỉ học có một giờ (giống như Vẽ, Sử, Địa, Thể Dục, Hán, v.v.). Bù lại, khác với các giáo sư các môn khác, lớp của tôi được học thầy Tiến suốt 4 năm liền của Trung Học Đệ Nhất Cấp.

 

Dữ kiện, cũng như tin tức về thầy Chung Quân rất khó t́m, v́ thầy sống rất bặt thiệp. Ba nguồn tin tức liệt kê theo sau mới chỉ được t́nh cờ thu thập mới đây, xét ra khả tín, giúp cải chính những tin đồn không đúng sự thật, v́ rất nhiều cựu học sinh của thầy muốn t́m, biết về thầy.

 

Theo con trai của thầy  (anh N. V. - hiện sinh sống ở Hoa Kỳ): “Ông cụ thân sinh chúng tôi sinh năm 1927, và mất ngày 15 tháng 1 năm 1990;  Hưởng thọ 63 tuổi.  Ông đă xuất ngoại, đi tu nghiệp tại Đại học Michigan State University (MSU) – Tiểu bang Michigan, từ năm 1967. Đến 1971 th́ ông về nước với bằng Danh dự Tiến sĩ ngành Địa lư.  Khi trở về nước, ông đă ra Đại Học Huế để có thể sử dụng được sở học của ḿnh.  Sau 1975, khi không c̣n được trọng dụng trong ngành giảng dạy tại Huế, ông đă trở về hưu trí non tại Sai g̣n, được vài năm th́ thất lộc v́ bệnh tai biến mạch máu năo.”

 

Theo một sinh viên (anh P.C.) trẻ tuổi hơn, đă có học cùng trường MSU với thầy: “Nhạc sĩ Chung Quân được bộ Giáo Dục cử đi học về Địa Lư (Geography) tại Michigan State Universitỵ  

 

Anh ấy ở ‘off campus’ , trong một pḥng nhỏ của một building ở đường Grand Rapid, đối diện với MSU Campus, v́ không muốn sống sô bồ với sinh viên trong các halls ở Campus. Ngày ngày đi bộ vào trường, sống ẩn dật với cây đàn guitar. Anh ấy đánh guitar rất ngọt. Khi các sinh viên tụ họp nấu nướng th́ anh ấy cũng tham dự. Đôi khi vác đàn đến đánh cho mọi người hát. Đôi lúc ngồi coi  tử vi cho những sinh viên. Nghe nói tài bấm tử vi của anh rất là chính xác. Anh Chung Quân viết chữ rất đẹp. Cứ tưởng tượng sinh viên thời đó viết luận án (computer chưa thông dụng vào thời đó) th́ dùng bàn đánh máy (typewriter), anh Chung Quân th́ viết bản nháp luận án bằng tay, nắn nót từng trang, từng chữ, rất là đẹp.

 

Anh ấy về tỉnh Kalamazoo ở Michigan (trường Western Michigan University ở đó) làm khảo cứu cho luận án Tiến Sĩ về Immigration – ‘Sự thích nghi của di dân với đời sống Mỹ’, v.v. Sau khi tŕnh luận án Ph.D. năm 1973 th́ anh Chung Quân về nước;  Nghe nói làm ở Nha Địa Dư Đà Lạt.“

 

Một anh bạn đàn anh (T. X. D. - của tôi, thân từ hồi c̣n du học ở Tân Tây Lan) email từ bên Úc cho bie^’t:

 

“Tôi có dạy học cùng với anh Tiến ở Đại Học Huế. Sau khi tốt nghiệp Tiến sĩ ở ngoại quốc về, anh Tiến đă trở thành giáo sư Ban Văn Khoa ở đại học này từ năm 1971 đến 1976.

 

Anh Tiến là một người thông thái, nhân hậu, trọng nguyên tắc, và có tư cách. Tôi đă nhiều lần cảm phục chứng kiến anh ấy can đảm công khai phê phán những sai trái, và lố bịch của các cán bộ cộng sản trong trường, nên đă bị cho băi nhiệm khỏi ban giáo sư của Ban Văn khoa - Đại Học Huế.

 

Anh Tiến đă mất tại Sài G̣n sau khi bị đứt gân máu trên đầu - trong lúc đang đánh cờ tướng với người em rể - khiến anh bị mê man, và bất tỉnh (coma). Tôi có lại thăm anh trên giường bệnh trong bệnh viện, nhưng chỉ có nhà tôi đến đám táng của anh (v́ lúc đó tôi đang vượt biên).”

 

Ngỡ ngàng, tôi chẳng biết làm ǵ, đâm ra thành ‘Giận cá, chém thớt’: Qua đời lúc 63 tuổi th́ không biết trong cáo phó, tang gia đă thông báo như thế nào: ‘Hưởng Dương’ hay ‘Hưởng Thọ’? 

 

Tôi viết bài này để ghi lại những kỷ niệm đẹp chúng tôi - đám học sinh ở trường trung học Chu Văn An những năm 1960 – 1962 ở Sài G̣n - đă được may mắn có chung với thầy:

 

 

 

Chung Quân Nguyễn Đức Tiến

 

Một nhạc sĩ tài hoa, đa năng

đồng thời

Một vị giáo sư yêu nghề & tận tụy với học tṛ

 

 

Dù thế nào, làm sao quên đuợc thầy Chung Quân Nguyễn Đức Tiến, nhất là khi t́nh cờ nghe tiếng ai hát bài Làng Tôi trên xứ người. Bài hát ấy tính ra đă (2007 – 1952 =)  55 tuổi, rồi sẽ thọ hơn người đă sáng tạo ra nó …

 

 

Nguyên Giao

San Diego, Hoa Kỳ * 26 November 2007